MỘT SỐ HỌA SĨ VN TIÊU BIỂU

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Trọng Nghĩa (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:18' 15-01-2011
Dung lượng: 27.7 MB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Lê Trọng Nghĩa (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:18' 15-01-2011
Dung lượng: 27.7 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
5
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
(1906-1954)
Tô Ngọc Vân
Tô Ngọc Vân
Tô Ngọc Vân
sinh ngày 15/12/1906 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang.. bút danh của ông thường dùng là Tô Tử, Ái Mỹ
Thuở bé, đang học năm thứ 3 trường trung học Bưởi, Tô Ngọc Vân bỏ ngang để đi học vẽ rồi thi đỗ khóa II khoa sơn dầu trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1926-1931).
Ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật khóa II (năm 1931). Từ năm 1931, ông cộng tác với các báo: Phong Hóa, Ngày Nay, Thanh Nghị…
Đi nhiều nơi trong nước và sang cả Cam-pu-chia dạy học, nhưng Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội vẫn là nơi ông chứng kiến nhiều nhất nỗi đau, niềm vui trong đời sống. Nơi ấy đã nuôi ông lớn lên để gắn mình với những sự kiện nghệ thuật của đất nước đến trọn đời.
Ông từng dạy học ở trường trung học Phnôm-Pênh (1935-1939) và dạy trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1939-1945).
Sau cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc.
Ngày 17/6/1954, ông hy sinh ở Đa Khê, vùng gần sát chiến trường Điện Biên Phủ.
Ông được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam.
Tranh của Tô Ngọc Vân từng được triển lãm ở Sài Gòn (1930), triển lãm ở Ba Lan, Liên Xô, Hung-ga-ri, Ru-mani…
Những tác phẩm tiêu biểu của ông:
Trước cách mạng Tháng Tám 1945: Thiếu nữ bên hoa sen (1944), Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa (1942), Buổi trưa (1936), Bên hoa (1942), Thuyền sông Hương (1935) đều là tranh sơn dầu.
Trong kháng chiến chống Pháp: Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ (1946-sơn dầu), Nghỉ đêm bên đường (sơn mài - 1948), Con trâu quả thực (ký hoạ màu nước - 1954), Hai chiến sĩ (màu nước - 1949)…
Đề tài chủ yếu trong những sáng tác trước cách mạng của Tô Ngọc Vân là người đàn bà thành thị.
Từ tác phẩm Dưới bóng nắng vẽ người thiếu nữ mơ màng, với cái nhìn lơ đãng dưới hoa, nắng bên bờ ao, đến người thiếu nữ bâng khuâng..
tranh Tô Ngọc Vân không gợi lên một chân dung nhân vật cụ thể, chỉ như biểu tượng về sự trong trắng, cao quý của người phụ nữ.
Người phụ nữ được ông thể hiện với lòng trân trọng trước đối tượng, không sa vào khoái cảm nhục thể, hay cũng không quá mơ hồ, ẻo lả, kiêu sa như người phụ nữ trong tranh của các họa sĩ đương thời.
Cách mạng tháng Tám bùng nổ và thắng lợi, rồi cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp đã lay động Tô Ngọc Vân đoạn tuyệt với đề tài cũ, bắt đầu giai đoạn sáng tác mới, mở đầu là bức tranh thể hiện hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ dân tộc. Sự trăn trở trong quá trình sáng tác đã bộc lộ khi ông viết những dòng xúc động:
"Cuộc kháng chiến đã làm xiêu đổ nhiều giá trị tư tưởng cũ. Chúng tôi muốn đổ máu, chúng tôi muốn đoạn tuyệt với cái dĩ vãng nghệ thuật mà giờ nghĩ tới sự chuyển hướng đó, chúng tôi cảm thấy khó khăn nặng nề như chuyển một trái núi...".
Tô Ngọc Vân đi vào cuộc sống kháng chiến với tất cả những băn khoăn, day dứt của người nghệ sĩ cũ, đồng thời lại được thực tế vừa cụ thể, vừa nghiêm khắc đòi hỏi ông nhận thức chỗ đứng của mình trong sự nghiệp của dân tộc.
. Họa sĩ đã phát hiện trong những con người bình dị, mộc mạc một vẻ đẹp cao quý, thiêng liêng. Từ tình cảm cách mạng,
Tô Ngọc Vân đã xây dựng nên những con người mới, thành công rõ rệt của hiện thực cách mạng mang dáng nét của thời đại. Đó là điều ông đã đi trước các đồng nghiệp của mình.
Tô Ngọc Vân một trong những họa sĩ tiêu biểu của giai đoạn khởi đầu nền nghệ thuật tạo hình hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt nam.
Tên tuổi của họa sĩ Tô Ngọc Vân gắn liền với nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại.
Tấm lòng chân thành đối với nghệ thuật và tình yêu đất nước đã khơi nguồn để ông đến với hội họa và trở thành một trong những nghệ sĩ tiêu biểu của giai đoạn khởi đầu nền nghệ thuật tạo hình hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
(1910-1994)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Trần Văn Cẩn sinh ngày 13/8/1910 tại Kiến An, Hải Phòng.
Ông học Trường Bách Nghệ, rồi đi làm ở Sở cá Nha Trang, nhưng say mê nghề vẽ từ nhỏ.
Tốt nghiệp khoá 7 trường Cao đẳng Mỹ thuật Ðông Dương (1931-1936)
ông sớm thành danh với phong cách hiện thực trữ tình trên nhiều chất liệu khác nhau như sơn dầu, sơn mài, và lụa, khắc gỗ
Tiếp thu phương pháp nghệ thuật Âu Tây nhưng Trần Văn Cẩn, cũng như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Đỗ Cung,... vẫn tìm cho mình một bản sắc nghệ thuật Việt Nam.
Cách mạng tháng Tám thành công, Trần Văn Cẩn cùng nhiều hoạ sĩ khác đã hồ hởi dựng hàng chục tranh cổ động quanh hồ Hoàn Kiếm.
Bức "Nước Việt Nam của người Việt Nam" của Trần Văn Cẩn đã được căng trên toà nhà Địa ốc ngân hàng (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
Năm 1946, triển lãm mỹ thuật toàn quốc lần đầu tiên dưới chế độ mới được mở tại Hà Nội. Bức "Xuống đồng" của Trần Văn Cẩn đã được trao giải nhất và được Hội Văn hóa Cứu quốc mua, cùng với bức "Bác Hồ làm việc ở Bắc bộ phủ" của Tô Ngọc Vân và "Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh" của Nguyễn Đỗ Cung.
Tháng 7/1948: tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc, Trần Văn Cẩn được bầu vào Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam.
Tháng 6/1954: Trần Văn Cẩn thay thế Tô Ngọc Vân (đã mất trong thời gian này) đảm nhiệm Hiệu trưởng trường Mỹ thuật và giữ cương vị này trong 15 năm (1954 -1969).
Tranh của ông là những bài ca về hình nét và màu sắc…ca ngợi cuộc sống mới, con người mới trong lao động, chiến đấu bảo vệ và xây dựng đất nước. Hình ảnh người lao động mới, người phụ nữ mới và người chiến sĩ vũ trang được khắc họa sâu sắc trong tranh của họa sĩ Trần Văn Cẩn
Ông không chỉ là một họa sĩ giỏi mà là một bậc thầy có công đào tạo các thế hệ họa sĩ sau này ông cho rằng: mĩ thuật không đơn thuần là dạy nghề mà cái chính là “tạo dựng lòng say mê yêu nghề, lí tưởng sống chân chính, không khí sáng tạo và phụng sự nghệ thuật”
Với những đóng góp to lớn, Trần Văn Cẩn đã được trao nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Lao động hạng nhất. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).
Tác phẩm tiêu biểu:
Em Thúy – sơn dầu- 1943
Gội đầu- khắc gỗ- 1943
Tác nước đồng chiêm- sơn mài- 1958
Nữ dân quân miền biển- sơn dầu- 1960
Em Thúy – sơn dầu- 1943
Tác nước đồng chiêm- sơn mài- 1958
Nữ dân quân miền biển – sơn dầu- 1960
(1923-1988)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Nguyễn Sáng Sinh năm 1923 tại Làng Điều Hoà, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc TP Mỹ Tho , tỉnh Tiền Giang).
Năm 1938, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
Tháng 8-1945, ông tham gia cách mạng ở Hà Nội. Cuối tháng 12-1946, ông lên chiến khu Việt Bắc dùng nét vẽ của mình, phục vụ cuộc kháng chiến của dân tộc.
Tranh của ông gồm nhiều thể loại, ở thể loại nào ông cũng đều thành công. Về thể loại chiến tranh, ông có các tác phẩm Giặc đốt làng tôi, Kết nạp đảng ở Điện Biên Phủ, Hành quân đêm mưa, Bộ đội nghỉ trưa trên đồi, Thành đồng Tổ quốc. Về thể loại tranh chân dung, ông có hai tác phẩm nổi tiếng là Tư hoạ và Không gian.
Ông là bậc thầy về mô tả, làm nổi bậc cả tính cách lẫn đặc điểm của nhân vật.
Ngoài ra, ông còn vẽ theo nhiều đề tài khác nhau, như phụ nữ và hoa (thiếu nữ bên hoa sen),
cảnh đẹp vừa cổ kính vừa lộng lẫy của chùa chiền (Tháp phổ minh),
cảnh núi rừng thâm u mà hùng vĩ (Pắc Bó),
cảnh nông thôn bình dị, hiền hoà (thiếu nữ trong vườn chuối),
cảnh ghi lại những trò chơi dân gian (Chọi trâu, Đấu vật) v.v…
Nghệ thuật của ông là sự kết hợp hài hoà giữa tính hiện đại và tinh hoa của dân tộc
Ông mất năm 1988 tại thành phố Hồ Chí Minh thọ 65 tuổi. Tên tuổi của ông được ghi trong “Từ điển Bách khoa Larousse” ở Pháp.
Ông đã được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
Ông là hoạ sĩ có tư tưởng, giải quyết vấn đề xã hội lớn lao, gay cấn rất nhuần nhị, lay động với hình hoạ và màu sắc hiện đại, giản dị mà không khô khan, không sáo rỗng bởi con tim thành thực yêu thương cùng với tài năng biến ảo, đa dạng.
Cùng với Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, ông là cây đại thụ của sơn mài VN.
Nếu như Nguyễn Gia Trí đưa sơn mài đến đỉnh cao của những cảnh thần tiên mộng ảo, vàng son cung đình đài các , thì Nguyễn Sáng đẩy sơn mài đến đỉnh cao khác với tầng lớp đời thường cần lao, cảnh bi hùng chiến trận, chiến tranh cách mạng, những xung đột mạnh mẽ của cuộc sống hiện tại.
Ông bổ sung vào sơn mài bảng màu vàng, xanh, diệp lục với cách diễn tả phong phú dường như vô tận.
Những tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Sáng nằm ở sơn mài và đấy là đóng góp lớn nhất của Nguyễn Sáng cho hội hoạ cả về chất liệu và danh tiếng.
Các tác phẩm của Nguyễn Sáng có tầm cỡ về kỹ năng, mang rõ những thông điệp lớn về thân phận con người và tiềm ẩn một tài năng lớn của sáng tạo hiện đại cho nền mỹ thuật Việt Nam,
sống và vẽ, dấn thân và quyết liệt cho dù cuối đời ,ông đã chết trong cảnh khốn cùng,âm thầm lặng lẽ như cái chết của một thứ dân bụi đời không người thân bên mình trước lúc "lên đường".
khi được hỏi quan niệm về của cải,ông nói : "Nếu không vì nghệ thuật, rải tiền đầy đường tôi cũng dẫm lên mà đi; Nếu còn vì nghệ thuật, tôi sẵn sàng kiếm từng đồng xu để sống".!)
Giặc đốt làng tôi- sơn dầu-1954
Kết nạp đảng ở Điện Biên- sơn mài-1963
Thiếu nữ bên hoa sen- sơn dầu- 1972
(1912-1977)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Nguyễn Đỗ Cung sinh ra và lớn lên tại Hà Nội trong một gia đình trí thức, cha là dịch giả Nguyễn Đỗ Mục.
tốt nghiệp Trường Mĩ thuật Đông Dương khoá 1929-1934.
Ông nghiên cứu di sản văn hoá dân tộc qua kiến trúc cổ, tìm kiếm các trào lưu nghệ thuật phương Tây đầu thế kỉ 20, thể nghiệm khuynh hướng lập thể với mong muốn tạo sắc thái mới cho hội hoạ.
Năm 1940, đi Nhật tìm hiểu nghệ thuật sơn mài Nhật Bản.
Từ 1941, vẽ các tranh "Cổng thành Huế", "Cổng làng" (bột màu), "Từ Hải" (khắc gỗ màu), vẽ tranh bìa cho tập "Xuân thu nhã tập".
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đỗ Cung từng dạy học tại Trường tư thục Thuận Hóa.
Tên tuổi ông giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử Mỹ thuật Việt Nam cận hiện đại.
Ông đã đào tạo được nhiều họa sĩ trẻ miền Nam, là một cán bộ văn hóa nhiệt thành, vô tư, liêm khiết và người đặt nền móng cho bộ chính sử Mỹ thuật Việt Nam ra đời.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông là đại biểu Quốc hội khoá I, hoạt động trong Hội Văn hoá Cứu quốc, vẽ tranh cổ động và mẫu tiền giấy.
Năm 1947, là chủ tịch Liên đoàn Văn hoá Kháng chiến của Liên khu V, vẽ tín phiếu, tranh cổ động và các tranh một màu:
"Du kích La Hai", "Tiểu đội họp", "Binh công xưởng", "Nữ chiến sĩ Quảng Ngãi".
Ông khẳng định nghệ thuật phải phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, mở nhiều lớp vẽ ngắn hạn, đào tạo được những hoạ sĩ có tên tuổi về sau.
Ông còn là một nhà nghiên cứu uyên bác, đã viết nhiều chuyên khảo về mĩ thuật cổ đại Việt Nam.
Năm 1962, được giao trọng trách thành lập Viện Bảo tàng Mĩ thuật và chỉ đạo xây dựng Nhà Bảo tàng Mĩ thuật,
đã bồi dưỡng nhiều cán bộ nghiên cứu mĩ thuật qua phương pháp khảo sát các di tích mĩ thuật Việt Nam.
Từ 1960, tranh sơn dầu của ông chủ yếu vẽ về đề tài công nhân: "Học hỏi lẫn nhau" (1960), "Công nhân cơ khí" (1962), "Tan ca mời chị em đi họp thợ giỏi" (1976).
Tác phẩm tiêu biểu:
"Học hỏi lẫn nhau" (sơn dầu, 1960)
Chân dung Hồ Chủ tịch (sơn dầu, 1946);
Du kích La Hai (bột màu, 1947);
Dân quân tập bắn (màu bột, 1948);
Học hỏi lẫn nhau (sơn dầu, 1960);
Công nhân cơ khí (sơn dầu, 1962);
Tan ca, mời chị em đi học để thi thợ giỏi (sơn dầu, 1976).
Du kích tập bắn" là một tác phẩm bằng chất liệu bột màu, thể hiện rất rõ sự thay đổi lớn trong quan niệm nghệ thuật và tâm hồn của nghệ sĩ.
Ông đã trực tiếp ghi lại buổi tập bắn của một tổ du kích gồm có cả công nhân, nông dân...
bằng bố cục động, các nhân vật được phủ đầy ánh nắng trên bãi tập thoáng đãng và hòa sắc xanh thẳm của cây cối, xóm làng xa xa gợi nhiều cảm xúc cho người xem, khiến ta không thể coi đây là một bức ký họa.
Họa sĩ Nguyễn Sỹ Ngọc đã nhận xét về bức tranh này là "... một tuyên bố về phương pháp nghệ thuật... vẽ bằng bột màu nhưng lại nhuần nhị hơn chất liệu sơn dầu...".
(1920-1988)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Bùi Xuân Phái sinh năm 1920, mất năm 1988 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khoá 1941 – 1946,
tham gia kháng chiến, đồng thời tham dự nhiều triển lãm chung với các hoạ sĩ khác.
Năm 1952 ông về Hà nội, sống và sáng tác tại nhà (số 87 Phố Thuốc Bắc) cho đến khi mất.
Từ năm 1956 đến năm 1957, Bùi Xuân Phái giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Hà Nội, khi xảy ra phong trào Nhân văn Giai phẩm, hoạ sĩ phải đi lao động, học tập trong một xưởng mộc tại Nam Định và ban giám hiệu nhà trường đã đề nghị ông viết đơn xin ngưng giảng dậy tại trường Mỹ thuật.
Bùi Xuân Phái là một trong những hoạ sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên - những tên tuổi ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái.
Tranh phố của Bùi Xuân Phái vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rõ hồn cốt của phố cổ Hà Nội những thập niên 50, 60, 70.
Các mảng mầu trong tranh Phái thường có đường viền đậm nét, phố không những trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan đều có chiều sâu bên trong.
Ngắm tranh phố cổ của Phái, người xem nhận thấy họa sĩ đă gửi gắm những kỉ niệm, những hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối bâng khuân trên từng nét vẽ, như điềm báo về sự đổi thay và biến mất của từng mái nhà, từng con người mang hồn phách xưa cũ.
Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài khác, như: chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật... rất thành công.
Nhiều tranh của Bùi Xuân Phái đã được giải thưởng trong các cuộc triển lãm toàn quốc và thủ đô.
Ông vẽ trên vải, giấy, bảng gỗ, thậm chí cả trên giấy báo khi không có đủ nguyên liệu.
Ông dùng nhiều phương tiện hội họa khác nhau như sơn dầu, màu nước, phấn mầu, chì than, bút chì...
Các tác phẩm của ông biểu hiện sâu xa linh hồn người Việt, tính cách nhân bản và lòng yêu chuộng tự do, óc hài hước, đậm nét bi ai và khốn khổ.
Ông đă góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa báo chí và trình bày bìa sách, được trao tặng giải thưởng quốc tế (Lép-dích) về trình bày cuốn sách “Hề chèo” (1982).
Mặc dù cuộc sống khó khăn nhưng với tình yêu nghệ thuật, khát khao tìm tòi và thể hiện cái đẹp dung dị đời thường bằng những nét vẽ cọ,
Bùi Xuân Phái đã không ngừng vẽ, sáng tạo nghệ thuật ngay cả khi không mua được vật liệu và ông đã phải tận dụng mọi chất liệu như vỏ bao thuốc lá, giấy báo…
Ông cũng là hoạ sĩ đã gạt bỏ mọi toan tính đời thường để cho ra đời các tác phẩm dung dị, đơn giản nhưng đầy tâm tư sâu lắng.
Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Tác phẩm chính :
Phố cổ Hà Nội - Sơn dầu 1972
Hà Nội khán chiến - Sơn dầu 1966
Xe bò trong phố cổ - Sơn dầu 1972
Phố vắng - Sơn dầu 1981
Hóa trang sân khấu chèo - Sơn dầu 1968
Sân khấu chèo - Sơn dầu 1968
Vợ chồng chèo - Sơn dầu 1967
Trước giờ biểu diễn - 1984
Trước giờ biểu diễn của Bùi Xuân Phái_kích thước 60cm x 80cm_chất liệu sơn dầu_vẽ năm 1984_Bức này hiện đang trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ thuật Quốc gia (bản gốc)
họa tặc đã chép lại bằng chất liệu sơn mài,có đề năm vẽ là 1984 . Sotheby`s đã bán được vào 8. 4 .2008 tại Hồng Công ,với giá : 124,216 USD là bức chép lại bức Trước giờ biểu diễn
(1919-2002)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu sinh năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Bến Tre, trong một gia đình nông dân.
Ngay ở bậc tiểu học, cậu học sinh Châu đã nổi tiếng vẽ giỏi. Ngồi trong lớp, nhiều lúc Châu mải mê vẽ, thậm chí bài giảng của thầy cũng được thể hiện thành những trang vẽ sinh động.
Biệt danh “Châu vẽ” ra đời từ đấy. Năm 15 tuổi, thôi học, về nhà giúp cha làm ruộng, chăn vịt, nhưng niềm khao khát nghệ thuật vẫn luôn đốt cháy lòng anh.
Anh gặp Hoàng Tuyển, tác giả của bức tranh Tứ thời mà anh đã có lần ngắm nhìn say mê từng nét vẽ, từng mảng màu, sau đó Hoàng Tuyển đã trở thành người anh, người thầy truyền cho anh lòng say mê nghệ thuật.
Từ 1940-1945 học ở trường Mĩ thuật Đông dương( khóa cuối cùng)
Năm 1942, một số tranh của ông như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã gây được sự chú ý của giới mỹ thuật.
Ông đã giành các giải thưởng tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc như: huy chương đồng cho tranh Văn Miếu (1942),
huy chương bạc cho bức tranh lụa Cầu Nguyện (1943)
Sau khi tốt nghiệp ông trở về miền nam vừa hoạt động cách mạng, vừa sáng tác
Trong thời gian này, ông được biết tới với bức Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947), vẽ tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày), bằng chính máu của người chiến sĩ hy sinh và bức tranh Bác Hồ và 3 thiếu nhi Trung Nam Bắc vẽ bằng chính máu của mình
Năm 1949, ông được chuyển về công tác tại Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc tại khu 9.
Giữa năm 1950, ông trở ra Việt Bắc, đi từ Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan rồi Trung Quốc tới Việt Bắc mất 8 tháng.
Ông ở Việt Bắc hơn 6 tháng, sống gần chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây ông đã vẽ hơn 30 bức tranh đề tài Bác Hồ như
Bố cục nhà Bác trên đồi (lụa – 1951),
Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (sơn dầu – 1951),
Bác câu cá bên bờ suối (sơn dầu – 1951),
Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (sơn dầu – 1951)...
Năm 1952, ông được cử sang học điêu khắc Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc. Trước khi về nước, ông còn đến nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài ở Liên Xô và Ấn Độ trong nhiều tháng.
Năm 1956, ông trở thành giảng viên trường Mỹ thuật Việt Nam cho đến ngày thống nhất đất nước năm 1975.
Ông tu nghiệp tại Ấn Độ một năm (1957). Trong thời gian đó, ông vẫn tiếp tục sáng tác với hàng loạt tác phẩm đề tài anh hùng cách mạng như
Võ Thị Sáu trước quân thù,
Lòng người miền Nam,
Căm thù Phú Lợi,
Miền Nam bất khuất,
Miền Nam thành đồng,
Người mẹ Việt Nam...
Sau 1975, ông trở về thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục sáng tạo và giúp đỡ nhiều nghệ sĩ trẻ.
Lúc cuối đời, ông đã hoàn thành tác phẩm Bác Hồ bên suối Lê-nin bằng thạch cao và Bác Hồ với thiếu nhi bằng đồng đặt trước trụ sở Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh .
Ông từng giữ chức Chủ tịch danh dự Hội Mỹ Thuật TPHCM, giảng viên trường Cao đẳng Mỹ thuật VN, Ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Mỹ Thuật TP.HCM. Người mẹ Việt Nam...
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Nguyễn Gia Trí (1908-1993)
Nguyễn Gia Trí (1908-1993) sinh tại tỉnh Hà Tây.Ông là sinh viên của trường đại học nổi tiếng Indochina Fine Arts College (1931-1936), ông được xem là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là "Vua sơn mài"Từ khi ông mất,ngôi "Vua sơn mài" vẫn còn bỏ trống và rất khó có ai có thể "lên ngôi" thay thế ông được. Sinh thời,Bùi Xuân Phái rất ngưỡng mộ tài năng và phẩm chất kiên dũng trước bạo quyền của Nguyễn Gia Trí,và xem ông như bậc đàn anh đáng kính nhất trong làng hội họa Việt Nam.
Ông Nguyễn Gia Trí là một trong những họa sĩ nổi tiếng đi đầu trong việc tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho Việt Nam, với những đường nét vẽ thanh lịch và những tư tưởng mới về nghệ thuật sơn mài. Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo nên những bức họa hiện đại mang đầy tính dân tộc. Những tác phẩm của ông có thể tìm thấy trong Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam tại Hà Nội và Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật tại Sài Gòn. Tác phẩm của Nguyễn Gia Trí đã được chỉ định là Bảo Vật Quốc Gia. Vì thế, những tác phẩm của ông đã không được phép rời khỏi Việt Nam.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường làm tranh không hết hợp đồng, hầu hết là những đại gia có máu mặt đặt tranh, đó là những tỷ phú Nam Phi, Nam Mỹ. Họ đến xin ông vẽ những tranh khổ lớn và không yêu cầu về nội dung hay hình thức nghệ thuật, tùy ông muốn và không có chuyện tham gia góp ý kiến vào tác phẩm của ông. Tranh ông bán đo bằng ca-rê (phân vuông,tranh kích thước càng lớn thì giá tiền cứ theo đó mà nhân lên). Ở VN các họa sĩ trong lịch sử Hội họa hiện đại có duy nhất danh họa Nguyễn Gia Trí bán tranh tính bằng ca-rê và luôn phải từ chối đơn đặt hàng của khách.Trường hợp này đúng với nguyên tắc : phải có khách hàng lớn mới có nghệ sĩ lớn.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí lúc sinh thời đã có nguyện vọng giữ lại ba bức tranh : "để cho thế hệ mai sau nghiên cứu". Đó là 3 bức tranh sơn mài khổ lớn lưu tại Thư viện quốc gia TP Hồ Chí Minh mà vợ Ngô Đình Nhu mua định tặng Nhật Hoàng, nhưng ông yêu cầu phải để lại trong nước. Những năm đỉnh cao của năng lực sáng tạo, tài chính của ông lên tới hàng nghìn cây vàng. Nhưng đến khi nhắm mắt ,xuôi tay, ngoài vài tấm tranh cỡ nhỏ, tài sản của ông chẳng có gì đáng kể, tất cả đã được họa sĩ dành cho nghệ thuật! Tất cả đã được người nghệ sĩ Để gió cuốn đi.
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
(1906-1954)
Tô Ngọc Vân
Tô Ngọc Vân
Tô Ngọc Vân
sinh ngày 15/12/1906 tại làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang.. bút danh của ông thường dùng là Tô Tử, Ái Mỹ
Thuở bé, đang học năm thứ 3 trường trung học Bưởi, Tô Ngọc Vân bỏ ngang để đi học vẽ rồi thi đỗ khóa II khoa sơn dầu trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1926-1931).
Ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật khóa II (năm 1931). Từ năm 1931, ông cộng tác với các báo: Phong Hóa, Ngày Nay, Thanh Nghị…
Đi nhiều nơi trong nước và sang cả Cam-pu-chia dạy học, nhưng Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội vẫn là nơi ông chứng kiến nhiều nhất nỗi đau, niềm vui trong đời sống. Nơi ấy đã nuôi ông lớn lên để gắn mình với những sự kiện nghệ thuật của đất nước đến trọn đời.
Ông từng dạy học ở trường trung học Phnôm-Pênh (1935-1939) và dạy trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1939-1945).
Sau cách mạng tháng Tám 1945, ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc.
Ngày 17/6/1954, ông hy sinh ở Đa Khê, vùng gần sát chiến trường Điện Biên Phủ.
Ông được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam.
Tranh của Tô Ngọc Vân từng được triển lãm ở Sài Gòn (1930), triển lãm ở Ba Lan, Liên Xô, Hung-ga-ri, Ru-mani…
Những tác phẩm tiêu biểu của ông:
Trước cách mạng Tháng Tám 1945: Thiếu nữ bên hoa sen (1944), Thiếu nữ bên hoa huệ (1943), Hai thiếu nữ và em bé (1944), Thiếu phụ ngồi bên tranh tam đa (1942), Buổi trưa (1936), Bên hoa (1942), Thuyền sông Hương (1935) đều là tranh sơn dầu.
Trong kháng chiến chống Pháp: Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ (1946-sơn dầu), Nghỉ đêm bên đường (sơn mài - 1948), Con trâu quả thực (ký hoạ màu nước - 1954), Hai chiến sĩ (màu nước - 1949)…
Đề tài chủ yếu trong những sáng tác trước cách mạng của Tô Ngọc Vân là người đàn bà thành thị.
Từ tác phẩm Dưới bóng nắng vẽ người thiếu nữ mơ màng, với cái nhìn lơ đãng dưới hoa, nắng bên bờ ao, đến người thiếu nữ bâng khuâng..
tranh Tô Ngọc Vân không gợi lên một chân dung nhân vật cụ thể, chỉ như biểu tượng về sự trong trắng, cao quý của người phụ nữ.
Người phụ nữ được ông thể hiện với lòng trân trọng trước đối tượng, không sa vào khoái cảm nhục thể, hay cũng không quá mơ hồ, ẻo lả, kiêu sa như người phụ nữ trong tranh của các họa sĩ đương thời.
Cách mạng tháng Tám bùng nổ và thắng lợi, rồi cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp đã lay động Tô Ngọc Vân đoạn tuyệt với đề tài cũ, bắt đầu giai đoạn sáng tác mới, mở đầu là bức tranh thể hiện hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ dân tộc. Sự trăn trở trong quá trình sáng tác đã bộc lộ khi ông viết những dòng xúc động:
"Cuộc kháng chiến đã làm xiêu đổ nhiều giá trị tư tưởng cũ. Chúng tôi muốn đổ máu, chúng tôi muốn đoạn tuyệt với cái dĩ vãng nghệ thuật mà giờ nghĩ tới sự chuyển hướng đó, chúng tôi cảm thấy khó khăn nặng nề như chuyển một trái núi...".
Tô Ngọc Vân đi vào cuộc sống kháng chiến với tất cả những băn khoăn, day dứt của người nghệ sĩ cũ, đồng thời lại được thực tế vừa cụ thể, vừa nghiêm khắc đòi hỏi ông nhận thức chỗ đứng của mình trong sự nghiệp của dân tộc.
. Họa sĩ đã phát hiện trong những con người bình dị, mộc mạc một vẻ đẹp cao quý, thiêng liêng. Từ tình cảm cách mạng,
Tô Ngọc Vân đã xây dựng nên những con người mới, thành công rõ rệt của hiện thực cách mạng mang dáng nét của thời đại. Đó là điều ông đã đi trước các đồng nghiệp của mình.
Tô Ngọc Vân một trong những họa sĩ tiêu biểu của giai đoạn khởi đầu nền nghệ thuật tạo hình hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt nam.
Tên tuổi của họa sĩ Tô Ngọc Vân gắn liền với nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại.
Tấm lòng chân thành đối với nghệ thuật và tình yêu đất nước đã khơi nguồn để ông đến với hội họa và trở thành một trong những nghệ sĩ tiêu biểu của giai đoạn khởi đầu nền nghệ thuật tạo hình hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
(1910-1994)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Trần Văn Cẩn sinh ngày 13/8/1910 tại Kiến An, Hải Phòng.
Ông học Trường Bách Nghệ, rồi đi làm ở Sở cá Nha Trang, nhưng say mê nghề vẽ từ nhỏ.
Tốt nghiệp khoá 7 trường Cao đẳng Mỹ thuật Ðông Dương (1931-1936)
ông sớm thành danh với phong cách hiện thực trữ tình trên nhiều chất liệu khác nhau như sơn dầu, sơn mài, và lụa, khắc gỗ
Tiếp thu phương pháp nghệ thuật Âu Tây nhưng Trần Văn Cẩn, cũng như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Đỗ Cung,... vẫn tìm cho mình một bản sắc nghệ thuật Việt Nam.
Cách mạng tháng Tám thành công, Trần Văn Cẩn cùng nhiều hoạ sĩ khác đã hồ hởi dựng hàng chục tranh cổ động quanh hồ Hoàn Kiếm.
Bức "Nước Việt Nam của người Việt Nam" của Trần Văn Cẩn đã được căng trên toà nhà Địa ốc ngân hàng (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
Năm 1946, triển lãm mỹ thuật toàn quốc lần đầu tiên dưới chế độ mới được mở tại Hà Nội. Bức "Xuống đồng" của Trần Văn Cẩn đã được trao giải nhất và được Hội Văn hóa Cứu quốc mua, cùng với bức "Bác Hồ làm việc ở Bắc bộ phủ" của Tô Ngọc Vân và "Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh" của Nguyễn Đỗ Cung.
Tháng 7/1948: tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc, Trần Văn Cẩn được bầu vào Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam.
Tháng 6/1954: Trần Văn Cẩn thay thế Tô Ngọc Vân (đã mất trong thời gian này) đảm nhiệm Hiệu trưởng trường Mỹ thuật và giữ cương vị này trong 15 năm (1954 -1969).
Tranh của ông là những bài ca về hình nét và màu sắc…ca ngợi cuộc sống mới, con người mới trong lao động, chiến đấu bảo vệ và xây dựng đất nước. Hình ảnh người lao động mới, người phụ nữ mới và người chiến sĩ vũ trang được khắc họa sâu sắc trong tranh của họa sĩ Trần Văn Cẩn
Ông không chỉ là một họa sĩ giỏi mà là một bậc thầy có công đào tạo các thế hệ họa sĩ sau này ông cho rằng: mĩ thuật không đơn thuần là dạy nghề mà cái chính là “tạo dựng lòng say mê yêu nghề, lí tưởng sống chân chính, không khí sáng tạo và phụng sự nghệ thuật”
Với những đóng góp to lớn, Trần Văn Cẩn đã được trao nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Lao động hạng nhất. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).
Tác phẩm tiêu biểu:
Em Thúy – sơn dầu- 1943
Gội đầu- khắc gỗ- 1943
Tác nước đồng chiêm- sơn mài- 1958
Nữ dân quân miền biển- sơn dầu- 1960
Em Thúy – sơn dầu- 1943
Tác nước đồng chiêm- sơn mài- 1958
Nữ dân quân miền biển – sơn dầu- 1960
(1923-1988)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Nguyễn Sáng Sinh năm 1923 tại Làng Điều Hoà, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc TP Mỹ Tho , tỉnh Tiền Giang).
Năm 1938, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.
Tháng 8-1945, ông tham gia cách mạng ở Hà Nội. Cuối tháng 12-1946, ông lên chiến khu Việt Bắc dùng nét vẽ của mình, phục vụ cuộc kháng chiến của dân tộc.
Tranh của ông gồm nhiều thể loại, ở thể loại nào ông cũng đều thành công. Về thể loại chiến tranh, ông có các tác phẩm Giặc đốt làng tôi, Kết nạp đảng ở Điện Biên Phủ, Hành quân đêm mưa, Bộ đội nghỉ trưa trên đồi, Thành đồng Tổ quốc. Về thể loại tranh chân dung, ông có hai tác phẩm nổi tiếng là Tư hoạ và Không gian.
Ông là bậc thầy về mô tả, làm nổi bậc cả tính cách lẫn đặc điểm của nhân vật.
Ngoài ra, ông còn vẽ theo nhiều đề tài khác nhau, như phụ nữ và hoa (thiếu nữ bên hoa sen),
cảnh đẹp vừa cổ kính vừa lộng lẫy của chùa chiền (Tháp phổ minh),
cảnh núi rừng thâm u mà hùng vĩ (Pắc Bó),
cảnh nông thôn bình dị, hiền hoà (thiếu nữ trong vườn chuối),
cảnh ghi lại những trò chơi dân gian (Chọi trâu, Đấu vật) v.v…
Nghệ thuật của ông là sự kết hợp hài hoà giữa tính hiện đại và tinh hoa của dân tộc
Ông mất năm 1988 tại thành phố Hồ Chí Minh thọ 65 tuổi. Tên tuổi của ông được ghi trong “Từ điển Bách khoa Larousse” ở Pháp.
Ông đã được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
Ông là hoạ sĩ có tư tưởng, giải quyết vấn đề xã hội lớn lao, gay cấn rất nhuần nhị, lay động với hình hoạ và màu sắc hiện đại, giản dị mà không khô khan, không sáo rỗng bởi con tim thành thực yêu thương cùng với tài năng biến ảo, đa dạng.
Cùng với Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, ông là cây đại thụ của sơn mài VN.
Nếu như Nguyễn Gia Trí đưa sơn mài đến đỉnh cao của những cảnh thần tiên mộng ảo, vàng son cung đình đài các , thì Nguyễn Sáng đẩy sơn mài đến đỉnh cao khác với tầng lớp đời thường cần lao, cảnh bi hùng chiến trận, chiến tranh cách mạng, những xung đột mạnh mẽ của cuộc sống hiện tại.
Ông bổ sung vào sơn mài bảng màu vàng, xanh, diệp lục với cách diễn tả phong phú dường như vô tận.
Những tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Sáng nằm ở sơn mài và đấy là đóng góp lớn nhất của Nguyễn Sáng cho hội hoạ cả về chất liệu và danh tiếng.
Các tác phẩm của Nguyễn Sáng có tầm cỡ về kỹ năng, mang rõ những thông điệp lớn về thân phận con người và tiềm ẩn một tài năng lớn của sáng tạo hiện đại cho nền mỹ thuật Việt Nam,
sống và vẽ, dấn thân và quyết liệt cho dù cuối đời ,ông đã chết trong cảnh khốn cùng,âm thầm lặng lẽ như cái chết của một thứ dân bụi đời không người thân bên mình trước lúc "lên đường".
khi được hỏi quan niệm về của cải,ông nói : "Nếu không vì nghệ thuật, rải tiền đầy đường tôi cũng dẫm lên mà đi; Nếu còn vì nghệ thuật, tôi sẵn sàng kiếm từng đồng xu để sống".!)
Giặc đốt làng tôi- sơn dầu-1954
Kết nạp đảng ở Điện Biên- sơn mài-1963
Thiếu nữ bên hoa sen- sơn dầu- 1972
(1912-1977)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Nguyễn Đỗ Cung sinh ra và lớn lên tại Hà Nội trong một gia đình trí thức, cha là dịch giả Nguyễn Đỗ Mục.
tốt nghiệp Trường Mĩ thuật Đông Dương khoá 1929-1934.
Ông nghiên cứu di sản văn hoá dân tộc qua kiến trúc cổ, tìm kiếm các trào lưu nghệ thuật phương Tây đầu thế kỉ 20, thể nghiệm khuynh hướng lập thể với mong muốn tạo sắc thái mới cho hội hoạ.
Năm 1940, đi Nhật tìm hiểu nghệ thuật sơn mài Nhật Bản.
Từ 1941, vẽ các tranh "Cổng thành Huế", "Cổng làng" (bột màu), "Từ Hải" (khắc gỗ màu), vẽ tranh bìa cho tập "Xuân thu nhã tập".
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đỗ Cung từng dạy học tại Trường tư thục Thuận Hóa.
Tên tuổi ông giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử Mỹ thuật Việt Nam cận hiện đại.
Ông đã đào tạo được nhiều họa sĩ trẻ miền Nam, là một cán bộ văn hóa nhiệt thành, vô tư, liêm khiết và người đặt nền móng cho bộ chính sử Mỹ thuật Việt Nam ra đời.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông là đại biểu Quốc hội khoá I, hoạt động trong Hội Văn hoá Cứu quốc, vẽ tranh cổ động và mẫu tiền giấy.
Năm 1947, là chủ tịch Liên đoàn Văn hoá Kháng chiến của Liên khu V, vẽ tín phiếu, tranh cổ động và các tranh một màu:
"Du kích La Hai", "Tiểu đội họp", "Binh công xưởng", "Nữ chiến sĩ Quảng Ngãi".
Ông khẳng định nghệ thuật phải phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, mở nhiều lớp vẽ ngắn hạn, đào tạo được những hoạ sĩ có tên tuổi về sau.
Ông còn là một nhà nghiên cứu uyên bác, đã viết nhiều chuyên khảo về mĩ thuật cổ đại Việt Nam.
Năm 1962, được giao trọng trách thành lập Viện Bảo tàng Mĩ thuật và chỉ đạo xây dựng Nhà Bảo tàng Mĩ thuật,
đã bồi dưỡng nhiều cán bộ nghiên cứu mĩ thuật qua phương pháp khảo sát các di tích mĩ thuật Việt Nam.
Từ 1960, tranh sơn dầu của ông chủ yếu vẽ về đề tài công nhân: "Học hỏi lẫn nhau" (1960), "Công nhân cơ khí" (1962), "Tan ca mời chị em đi họp thợ giỏi" (1976).
Tác phẩm tiêu biểu:
"Học hỏi lẫn nhau" (sơn dầu, 1960)
Chân dung Hồ Chủ tịch (sơn dầu, 1946);
Du kích La Hai (bột màu, 1947);
Dân quân tập bắn (màu bột, 1948);
Học hỏi lẫn nhau (sơn dầu, 1960);
Công nhân cơ khí (sơn dầu, 1962);
Tan ca, mời chị em đi học để thi thợ giỏi (sơn dầu, 1976).
Du kích tập bắn" là một tác phẩm bằng chất liệu bột màu, thể hiện rất rõ sự thay đổi lớn trong quan niệm nghệ thuật và tâm hồn của nghệ sĩ.
Ông đã trực tiếp ghi lại buổi tập bắn của một tổ du kích gồm có cả công nhân, nông dân...
bằng bố cục động, các nhân vật được phủ đầy ánh nắng trên bãi tập thoáng đãng và hòa sắc xanh thẳm của cây cối, xóm làng xa xa gợi nhiều cảm xúc cho người xem, khiến ta không thể coi đây là một bức ký họa.
Họa sĩ Nguyễn Sỹ Ngọc đã nhận xét về bức tranh này là "... một tuyên bố về phương pháp nghệ thuật... vẽ bằng bột màu nhưng lại nhuần nhị hơn chất liệu sơn dầu...".
(1920-1988)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Bùi Xuân Phái sinh năm 1920, mất năm 1988 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khoá 1941 – 1946,
tham gia kháng chiến, đồng thời tham dự nhiều triển lãm chung với các hoạ sĩ khác.
Năm 1952 ông về Hà nội, sống và sáng tác tại nhà (số 87 Phố Thuốc Bắc) cho đến khi mất.
Từ năm 1956 đến năm 1957, Bùi Xuân Phái giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Hà Nội, khi xảy ra phong trào Nhân văn Giai phẩm, hoạ sĩ phải đi lao động, học tập trong một xưởng mộc tại Nam Định và ban giám hiệu nhà trường đã đề nghị ông viết đơn xin ngưng giảng dậy tại trường Mỹ thuật.
Bùi Xuân Phái là một trong những hoạ sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên - những tên tuổi ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại.
Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái.
Tranh phố của Bùi Xuân Phái vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rõ hồn cốt của phố cổ Hà Nội những thập niên 50, 60, 70.
Các mảng mầu trong tranh Phái thường có đường viền đậm nét, phố không những trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan đều có chiều sâu bên trong.
Ngắm tranh phố cổ của Phái, người xem nhận thấy họa sĩ đă gửi gắm những kỉ niệm, những hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối bâng khuân trên từng nét vẽ, như điềm báo về sự đổi thay và biến mất của từng mái nhà, từng con người mang hồn phách xưa cũ.
Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài khác, như: chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật... rất thành công.
Nhiều tranh của Bùi Xuân Phái đã được giải thưởng trong các cuộc triển lãm toàn quốc và thủ đô.
Ông vẽ trên vải, giấy, bảng gỗ, thậm chí cả trên giấy báo khi không có đủ nguyên liệu.
Ông dùng nhiều phương tiện hội họa khác nhau như sơn dầu, màu nước, phấn mầu, chì than, bút chì...
Các tác phẩm của ông biểu hiện sâu xa linh hồn người Việt, tính cách nhân bản và lòng yêu chuộng tự do, óc hài hước, đậm nét bi ai và khốn khổ.
Ông đă góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa báo chí và trình bày bìa sách, được trao tặng giải thưởng quốc tế (Lép-dích) về trình bày cuốn sách “Hề chèo” (1982).
Mặc dù cuộc sống khó khăn nhưng với tình yêu nghệ thuật, khát khao tìm tòi và thể hiện cái đẹp dung dị đời thường bằng những nét vẽ cọ,
Bùi Xuân Phái đã không ngừng vẽ, sáng tạo nghệ thuật ngay cả khi không mua được vật liệu và ông đã phải tận dụng mọi chất liệu như vỏ bao thuốc lá, giấy báo…
Ông cũng là hoạ sĩ đã gạt bỏ mọi toan tính đời thường để cho ra đời các tác phẩm dung dị, đơn giản nhưng đầy tâm tư sâu lắng.
Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Tác phẩm chính :
Phố cổ Hà Nội - Sơn dầu 1972
Hà Nội khán chiến - Sơn dầu 1966
Xe bò trong phố cổ - Sơn dầu 1972
Phố vắng - Sơn dầu 1981
Hóa trang sân khấu chèo - Sơn dầu 1968
Sân khấu chèo - Sơn dầu 1968
Vợ chồng chèo - Sơn dầu 1967
Trước giờ biểu diễn - 1984
Trước giờ biểu diễn của Bùi Xuân Phái_kích thước 60cm x 80cm_chất liệu sơn dầu_vẽ năm 1984_Bức này hiện đang trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ thuật Quốc gia (bản gốc)
họa tặc đã chép lại bằng chất liệu sơn mài,có đề năm vẽ là 1984 . Sotheby`s đã bán được vào 8. 4 .2008 tại Hồng Công ,với giá : 124,216 USD là bức chép lại bức Trước giờ biểu diễn
(1919-2002)
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu sinh năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Bến Tre, trong một gia đình nông dân.
Ngay ở bậc tiểu học, cậu học sinh Châu đã nổi tiếng vẽ giỏi. Ngồi trong lớp, nhiều lúc Châu mải mê vẽ, thậm chí bài giảng của thầy cũng được thể hiện thành những trang vẽ sinh động.
Biệt danh “Châu vẽ” ra đời từ đấy. Năm 15 tuổi, thôi học, về nhà giúp cha làm ruộng, chăn vịt, nhưng niềm khao khát nghệ thuật vẫn luôn đốt cháy lòng anh.
Anh gặp Hoàng Tuyển, tác giả của bức tranh Tứ thời mà anh đã có lần ngắm nhìn say mê từng nét vẽ, từng mảng màu, sau đó Hoàng Tuyển đã trở thành người anh, người thầy truyền cho anh lòng say mê nghệ thuật.
Từ 1940-1945 học ở trường Mĩ thuật Đông dương( khóa cuối cùng)
Năm 1942, một số tranh của ông như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã gây được sự chú ý của giới mỹ thuật.
Ông đã giành các giải thưởng tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc như: huy chương đồng cho tranh Văn Miếu (1942),
huy chương bạc cho bức tranh lụa Cầu Nguyện (1943)
Sau khi tốt nghiệp ông trở về miền nam vừa hoạt động cách mạng, vừa sáng tác
Trong thời gian này, ông được biết tới với bức Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947), vẽ tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày), bằng chính máu của người chiến sĩ hy sinh và bức tranh Bác Hồ và 3 thiếu nhi Trung Nam Bắc vẽ bằng chính máu của mình
Năm 1949, ông được chuyển về công tác tại Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc tại khu 9.
Giữa năm 1950, ông trở ra Việt Bắc, đi từ Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan rồi Trung Quốc tới Việt Bắc mất 8 tháng.
Ông ở Việt Bắc hơn 6 tháng, sống gần chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây ông đã vẽ hơn 30 bức tranh đề tài Bác Hồ như
Bố cục nhà Bác trên đồi (lụa – 1951),
Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (sơn dầu – 1951),
Bác câu cá bên bờ suối (sơn dầu – 1951),
Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (sơn dầu – 1951)...
Năm 1952, ông được cử sang học điêu khắc Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc. Trước khi về nước, ông còn đến nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài ở Liên Xô và Ấn Độ trong nhiều tháng.
Năm 1956, ông trở thành giảng viên trường Mỹ thuật Việt Nam cho đến ngày thống nhất đất nước năm 1975.
Ông tu nghiệp tại Ấn Độ một năm (1957). Trong thời gian đó, ông vẫn tiếp tục sáng tác với hàng loạt tác phẩm đề tài anh hùng cách mạng như
Võ Thị Sáu trước quân thù,
Lòng người miền Nam,
Căm thù Phú Lợi,
Miền Nam bất khuất,
Miền Nam thành đồng,
Người mẹ Việt Nam...
Sau 1975, ông trở về thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục sáng tạo và giúp đỡ nhiều nghệ sĩ trẻ.
Lúc cuối đời, ông đã hoàn thành tác phẩm Bác Hồ bên suối Lê-nin bằng thạch cao và Bác Hồ với thiếu nhi bằng đồng đặt trước trụ sở Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh .
Ông từng giữ chức Chủ tịch danh dự Hội Mỹ Thuật TPHCM, giảng viên trường Cao đẳng Mỹ thuật VN, Ủy viên thường vụ Ban chấp hành Hội Mỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Mỹ Thuật TP.HCM. Người mẹ Việt Nam...
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
TRƯỜNG CĐSP BÌNH ĐỊNH-KHOA XÃ HỘI-
Nguyễn Gia Trí (1908-1993)
Nguyễn Gia Trí (1908-1993) sinh tại tỉnh Hà Tây.Ông là sinh viên của trường đại học nổi tiếng Indochina Fine Arts College (1931-1936), ông được xem là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là "Vua sơn mài"Từ khi ông mất,ngôi "Vua sơn mài" vẫn còn bỏ trống và rất khó có ai có thể "lên ngôi" thay thế ông được. Sinh thời,Bùi Xuân Phái rất ngưỡng mộ tài năng và phẩm chất kiên dũng trước bạo quyền của Nguyễn Gia Trí,và xem ông như bậc đàn anh đáng kính nhất trong làng hội họa Việt Nam.
Ông Nguyễn Gia Trí là một trong những họa sĩ nổi tiếng đi đầu trong việc tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho Việt Nam, với những đường nét vẽ thanh lịch và những tư tưởng mới về nghệ thuật sơn mài. Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo nên những bức họa hiện đại mang đầy tính dân tộc. Những tác phẩm của ông có thể tìm thấy trong Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam tại Hà Nội và Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật tại Sài Gòn. Tác phẩm của Nguyễn Gia Trí đã được chỉ định là Bảo Vật Quốc Gia. Vì thế, những tác phẩm của ông đã không được phép rời khỏi Việt Nam.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường làm tranh không hết hợp đồng, hầu hết là những đại gia có máu mặt đặt tranh, đó là những tỷ phú Nam Phi, Nam Mỹ. Họ đến xin ông vẽ những tranh khổ lớn và không yêu cầu về nội dung hay hình thức nghệ thuật, tùy ông muốn và không có chuyện tham gia góp ý kiến vào tác phẩm của ông. Tranh ông bán đo bằng ca-rê (phân vuông,tranh kích thước càng lớn thì giá tiền cứ theo đó mà nhân lên). Ở VN các họa sĩ trong lịch sử Hội họa hiện đại có duy nhất danh họa Nguyễn Gia Trí bán tranh tính bằng ca-rê và luôn phải từ chối đơn đặt hàng của khách.Trường hợp này đúng với nguyên tắc : phải có khách hàng lớn mới có nghệ sĩ lớn.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí lúc sinh thời đã có nguyện vọng giữ lại ba bức tranh : "để cho thế hệ mai sau nghiên cứu". Đó là 3 bức tranh sơn mài khổ lớn lưu tại Thư viện quốc gia TP Hồ Chí Minh mà vợ Ngô Đình Nhu mua định tặng Nhật Hoàng, nhưng ông yêu cầu phải để lại trong nước. Những năm đỉnh cao của năng lực sáng tạo, tài chính của ông lên tới hàng nghìn cây vàng. Nhưng đến khi nhắm mắt ,xuôi tay, ngoài vài tấm tranh cỡ nhỏ, tài sản của ông chẳng có gì đáng kể, tất cả đã được họa sĩ dành cho nghệ thuật! Tất cả đã được người nghệ sĩ Để gió cuốn đi.
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất