Thường thức mĩ thuật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Trọng Nghĩa (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:04' 15-01-2011
Dung lượng: 29.4 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Lê Trọng Nghĩa (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:04' 15-01-2011
Dung lượng: 29.4 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Kiến trúc cung đình
Kiến trúc dân gian
Kiến trúc tôn giáo
Dấu tích
thành Thăng Long
Phác thảo
thành Thăng Long
+ Kiến trúc Phật giáo
Ở nước ta Phật giáo là tôn giáo phát triển mạnh nhất. Đặc biệt vào thời Lí-Trần Phật giáo đã thành quốc giáo. Bởi vậy ở thời kì này chùa, tháp được xây dựng rất nhiều
Theo văn bia cổ ghi “Hễ những chỗ nào có núi cao, cảnh đẹp đều có mở mang để lập chùa chiền “
Chỉ trong thời Lý đã có hàng ngàn chùa tháp được xây dựng.Trải qua gần nghìn năm do điều kiện thời tiết, chiến tranh…Các công trình kiến trúc chùa tháp nay còn lại rất ít.
Công trình nào còn giữ được là cũng qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa của các thời kỳ sau
- Phần lớn các chùa được xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc “
Kiểu chữ Công
Thượng điện
Tiền đường
Thiên
hương
ví dụ:
chùa Phổ Minh ( Lộc Vượng- Nam Định ) –1262.
Hay chùa Bút Tháp ( Thuận Thành- Hà Bắc )-1643.
Chùa Bút tháp-BắcNinh
- Kiểu thức kiến trúc thứ hai là biến thể của “nội công ngoại quốc “.
Ở thế kỷ XVII có một số chùa ngoài chức năng là nơi thờ Phật còn một chức năng thứ hai là thờ Thánh. Dân gian thường gọi là “tiền Phật hậu Thánh “
Ví dụ
như chùa Keo ở Thái Bình .Phía trước thờ Phật, sâu vào trong trong là lớp kiến trúc thờ Thánh Không Lộ.
Kiểu kiến trúc chùa Keo được gọi “nội nhị công ngoại quốc “
Chùa Keo- Thái Bình
- Đến thế kỷ XVIII có những ngôi chùa được xây dựng theo kiểu chữ Tam
Ví dụ
như chùa Tây Phương ( Hà Tây )-1794,
chùa Nghi Tàm ( Hồ Tây- Hà Nội )- 1792
Kiểu chữ Tam
Chúa Thượng
Chúa Trung
Chúa Hạ
Chùa Tây Phương- Hà Tây
- Ngoài ra có một số chùa xây dựng theo kiểu chữ Đinh
Kiểu chữ Đinh
Chính
điện
Tiền đường
Kiểu chữ Tam
Kiểu chữ Đinh
Chúa Thượng
Chúa Trung
Chúa Hạ
Chính
điện
Tiền đường
Kiểu chữ Công
Thượng điện
Tiền đường
Thiên
hương
Ngoài ra, trong kiến trúc chùa ở VN còn một công trình kiến trúc rất đặc biệt và độc đáo về kiểu dáng đó là chùa Một Cột-1049.
Chùa lúc đầu có tên là Diên Hựu Tự, được xây dựng trên một cột đá cao 30m và có kết cấu giống như một bông hoa vươn lên từ mặt hồ Linh Chiểu.
Chùa Một Cột ngày nay được xây dựng năm 1955 có kiểu dáng giống với chùa được xây dựng thời Lý nhưng về qui mô thì nhỏ bé hơn rất nhiều.
Chùa Một Cột
+ Tháp
Nói đến chùa, ngoài những công trình chính được xây dựng theo các kiểu nêu trên còn có những tòa tháp.
Chùa Phổ Minh –Nam Định
Tháp Báo Nghiêm- chùa Bút Tháp
Tháp Linh Mụ- Chùa Linh Mụ
Vườn tháp trong chùa Bổ Đà - Bắc Giang
. Ý nghĩa của tháp:
Tháp được coi là nơi thờ Phật,
có thể là nơi tưởng niệm ,hành lễ tôn giáo.
Chúng được xây dựng ở phía sau hoặc những vị trí quan trọng trong chùa.
Tháp thường có lối kiến trúc vuông 4mặt cao tầng, như tháp Phổ Minh, các tháp ở chùa Phật Tích.
Tuy nhiên cũng có 1 số tháp được xây dựng theo kiểu tháp 8 cạnh như tháp Báo Nghiêm( Chùa Bút Tháp –Bắc Ninh ) hay tháp ở chùa Thiên Mụ ( Huế )
. Sang thế kỷ XV nho giáo phát triển mạnh lấn át Phật giáo.Nên chùa và tháp không còn được xây dựng.
Thay vào đó một số loại hình kiến trúc khác trở nên phát triển,Đó là
kiến trúc đền, miếu thờ Thánh, kiến trúc các trường thi hoặc kiến trúc lăng mộ.
Ở thời kỳ này nhà nước đề cao Nho giáo,đề cao kẻ sĩ, chú ý đến việc thi cử để lựa chọn nhân tài.
Vì thế nhà nứơc chú trọng đến việc xây dựng những công trình tiêu biểu cho trường thi, trường học lớn cho cả nước (Văn Miếu –Quốc Tử Giám là ví dụ điển hình ).
Vào cuối thế kỷ XV, Trong kiến trúc cổ VN xuất hiện một thể loại mới: đó là kiến trúc các ngôi đình làng VN.
Chùa là nơi thờ Phật, điều này thỏa mãn lòng dân về tín ngưỡng. Nhưng có một nhu cầu khác trong đời sống không thể thiếu- đó là nhu cầu hội họp, sinh hoạt văn hóa cho cộng đồng làng xã.
Do đó từ thế kỷ XVI, nhất là sang cuối thế kỷ XVII khi nền kinh tế khá ổn định, xh yên bình thì đình làng được xây dựng rất nhiều trên cả nước.
Đình làng được coi là tiêu biểu cho mảng kiến trúc dân gian.
Đình Tây Đằng- Hà Tây- (1460-1496
Đình Bảng- Từ Sơn- Bắc Ninh
Đình Thổ Tang- Vĩnh Phúc- TK XVII
Cổng làng Thổ Hà
Cổng làng Cự Đà
* Ý nghĩa đình làng :
- Đó là nơi rước Thành Hoàng từ miếu, đền hoặc nghè về làm lễ tri ân.
Thành Hoàng có thể là những người có công lập nên làng xã, cũng có thể là anh hùng dân tộc có công với đất nước.
Đối với dân làng Thành Hoàng là ông vua về mặt tinh thần.
- Đình làng còn là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng cho bà con trong làng xã. Nơi đây là nơi biểu diễn văn nghệ, nơi tổ chức một bữa ăn vạ, ăn khao và còn có thể là nơi trai gái hò hẹn tâm tình…
có thể nói đình làng gắn bó với mỗi người dân trong làng, nó hiện diện như một phần đời sống của họ, và chứng kiến mọi nỗi vui buồn sướng khổ của dân làng.
* Đặc điểm kiến trúc:
Do đình làng có nhiều chức năng như vậy nên nó được xây trước hoặc giữa làng.
Đình làng được làm theo kiểu chữ nhất (-),
Đó là một nếp nằm ngang gồm các gian lẻ, theo kiểu nhà truyền thống của người Việt.
Mái đình đồ sộ xòe rộng và thường chiếm khoảng hai phần ba chiều cao toàn bộ công trình.
Tuy vậy trông toàn bộ vẫn nhẹ nhàng bởi các đầu đao cong cuộn lên thành từng dải hoa văn với kiểu dáng phong phú sinh động.
Kiến trúc này rất phù hợp với khí hậu nóng ẩm ở VN. Để tránh ẩm, sân đình thường làm cao khoảng 70cm.
Ngày nay còn rất nhiều công trình đình làng trên khắp đất nước ta, tập trung chủ yếu ở miền Bắc như
đình Lỗ Hạnh –Bắc Giang (1576) ,
đình Tây Đằng- Hà Tây thời Lê Thánh Tông(1460-1496),
đình Bảng- Từ Sơn- Bắc Ninh,
đình Bình Lục- Quảng Ninh (1705 )…
Mỗi ngôi đình ở mỗi thời kỳ khác nhau của lịch sử sẽ mang những tính chất khác nhau, tạo nên sự đa dạng phong phú của nghệ thuật đình làng VN.
- Điêu khắc gắn liền với kiến trúc, trang hoàng cho kiến trúc.
Ví dụ như
chùa tháp thì có các tượng phật, tượng thờ, tượng chân dung.
Lăng mô thì có tượng quan hầu tượng thú…
Đình làng thì có các bức chạm khắc gỗ đề cập nhiều mặt cuộc sống dân dã, cuộc sống tình cảm của con người.
- Do các công trình kiến trúc cổ ở VN không lớn lắm nên các tác phẩm điêu khắc cũng ở tầm vừa phải về kích thước
- Phần lớn được làm trên chất liệu gỗ.
Ngoài ra còn một số được làm trên chất liệu đá, và một số ít tác phẩm làm trên chất liệu đất được sơn son thếp vàng.
Một phong cách bao trùm trong lĩnh vực điêu khắc là phong cách tả thực. Các nghệ nhân xưa dù làm tượng phật cũng lấy mẫu mực điển hình từ con người để sáng tạo.
Các nghệ sĩ đã lấy đề tài Phật giáo để nêu lên thực trạng điển hình của xã hội con người…
Ngoài phong cách tả thực các nghệ nhân còn kết hợp phong cách tượng trưng, cách điệu trong các mô tiếp hoa văn trang trí chạm khắc gỗ .
Một số tác phẩm điển hình cho điêu khắc cổ là :
+Tượng Phật ở chùa Phật Tích ( Tiên Sơn – Bắc Ninh năm1057 ).
Chất liệu đá xanh.
Tượng thể hiện tư thế Phật đang ngồi thuyết pháp với dáng ngồi thanh thoát, an nhiên tự tại …
Mặt dù có ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ nhưng bức tượng đã toát tinh thần đức Phật theo thẫm mỹ người Việt.
Tượng biểu hiện được sự hòa quyện giữa hai yếu tố tôn giáo và hiện thực.
+ Tượng Phật Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay: Chùa Bút Tháp ( Thuận Thành – Bắc Ninh ) –1656.
Đây là một tác phẩm độc đáo mang giá trị sáng tạo cao.
Độc đáo và sáng tạo nhất là tác giả đã tạo ra vòng hào quang bằng mô tiếp 952 cánh tay nhỏ, như những tia sáng tỏa ra từ Đức Phật.
Trên mỗi bàn tay nhỏ được khắc hình con mắt.
42 cánh tay lớn như những thân măng tròn trịa được sắp xếp một cách hợp lí và cân đối ở hai bên mình tượng.
Tượng phật được tạc trong tư thế ngồi tĩnh tọa, ngự trên tòa sen có 2 lớp cánh sen ngửa. Đầu quỷ và hai tay của nó như thế kiền ba chân vững chải đỡ tòa sen, góp phần tạo thế vững chải cho tác phẩm. Tượng cao 3,7m rộng 2m.
Tượng Phật âm chùa Bút Tháp xứng đáng tiêu biểu cho tài năng sáng tạo của ông cha ta.
+ Các bức chạm khắc gỗ trong đình làng thế kỷ XVII
+ Các bức chạm khắc gỗ trong đình làng thế kỷ XVII
nội dung các bức chạm này diễn tả về con người, cuộc sống tinh thần của họ và cảnh vật của đất nước.
Thông qua nhiều tác phẩm như :
Uống rượu, Đánh cờ ( Đình Ngọc Cảnh- Vĩnh Phúc );
Tắm Đầm Sen ( Đình Đông Viên – Hà Tây );
Trai gái đùa vui ( Đình Hưng Lộc- Nam Định )…
+ Các bức chạm khắc gỗ trong đình làng thế kỷ XVII
Ta thấy chất dân gian rất đậm nét.
Bằng ngôn ngữ tạo hình đơn giản, ước lệ nhưng hết sức sống động.
Ở những tác phẩm chạm khắc đình làng ta không tìm thấy ở vẻ đẹp ngoại hình một cách cân đối về tỉ lệ chi tiết.
Tuy vậy toàn bộ tác phẩm lại là sự kết hợp một cách hài hòa hợp lí của những yếu tố tạo hình ( hình, khối, đường nét ).
Nghệ thuật chạm khắc đình làng đã bọc lộ tất cả những gì người nông dân yêu thích, mơ ước, những điều họ ghét, và những điều họ mong chờ.
Ngoài hai pho tượng trên còn nhiều các pho tượng khác có giá trị trong lịch sử mĩ thuật VN
như các tượng La Hán ở chùa Tây Phương ( Hà Tây ), hoặc nhiều tượng chùa khác nữa…
Nhà thờ Phát Diệm- Ninh Bình- 1891
Nhà thờ Phát Diệm- Ninh Bình- 1891
Nhà thờ Đức Bà- TPHCM
Bên trong Nhà thờ Phát Diệm
Kinh thành Huế
 






Các ý kiến mới nhất